Bài đăng phổ biến

Showing posts with label vietnam industry. Show all posts
Showing posts with label vietnam industry. Show all posts

Thursday, June 2, 2011

(khu công nghiệp) http://khucongnghiep.net Tin tức khu công nghiệp

Tin tức khu công nghiệp

khu cong nghiep
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
khu cong nghiep
khu cong nghiep

I. TỔNG QUAN VỀ HIỆN TRẠNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ 1/ Thuận lợi:
– Nhìn chung các KCN&KCX đã đi vào hoạt động ổn định, đặc biệt là các KCN&KCX có cơ sở hạ tầng tương đối hoàn thiện; tính đến nay tỷ lệ lấp đầy tại các KCN-KCX đạt 70% ở giai đoạn 1; tỷ lệ lấp đầy tại các KCN-KCX trên địa bàn thành phố từ 50% trở lên có 9 khu còn lại một vài khu tỷ lệ lấp đầy chưa cao là do cơ sở hạ tầng còn thiếu (điện, nước), thủ tục hành chính nhiêu khê….
– Tổng vốn đầu tư (tính gộp GPÐT và GPÐC) nước ngoài và trong nước năm 2001 theo ngoại tệ là 310 triệu USD, tuy mới chỉ đạt 91% chỉ tiêu đề ra song vẫn đứng trong 3 vị trí đầu trong tổng số 67 KCN-KCX của cả nước về kết quả thu hút vốn đầu tư trong năm 2001.
– Năm 2001 đã có thêm 109 nhà máy đi vào sản xuất; phần lớn doanh nghiệp họat động bình thường, kim nghạch xuất khẩu của 2 KCX tuy chỉ đạt 9,6% so với năm 2000 nhưng vẫn cao hơn mức tăng chung của kim ngạch xuất khẩu cả nước, là năm thứ tư xuất siêu kim ngạch và kim ngạch xuất siêu là 160 triệu USD.
– Trong năm 2001 các KCN-KCX thu hút thêm được 16.000 lao động, cao nhất trong các năm qua, đưa tổng số lao động trong KCN và KCX lên đến 96.000 người. Việc chấp hành luật lao động của người sử dụng lao động và người lao động tương đối tốt, chỉ có một số ít vụ tranh chấp giữa công nhân và chủ đầu tư nhưng đã được Ban quản lý và công đòan KCX-KCN hoà giải.
– Việc thực hiện công tác cải cách hành chính dần dần được cải thiện, Ban quản lý các KCN-KCX cũng đã đề xuất tháo gỡ các khúc mắc, khó khăn; công tác kiểm hóa của Hải Quan được sửa đổi; các hình thức dịch vụ , ngân hàng được tăng cường giúp các nhà đầu tư và doanh gnhiệp cảm thấy an tâm và tin tưởng hơn khi chọn KCN-KCX làm địa điểm dầu tư.
2/ Một số hạn chế trong công tác thu hút đầu tư tại các KCN-KCX:
Hiện tại các KCN không thể tiếp tục triển khai việc cho thuê đất vì các lý do sau:
- Ða phần các KCN đều ách tắc trong việc đền bù giải tỏa mặc dù đã báo cáo và đã được UBND thành phố chỉ đạo tháo gỡ nhưng chưa đạt được kết quả mong muốn, cản trở rất lớn đến tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng và thu hút đầu tư của các khu công nghiệp trong các năm gần đây.
- Sự chậm trễ của công trình cấp nước cho KCN Hiệp Phước, Trạm điện cho KCN Vĩnh Lộc, Lê Minh Xuân, việc nâng cao 2 trụ điện 2 bên bờ sông Soài Rạp đã ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của các doanh nghiệp KCN và ảnh hưởng không tốt đến việc thu hút đầu tư của các KCN .
- KCN Cát Lái 4 năm qua vẫn chưa khởi công xây dựng và KCN Hiệp Phước triển khai chậm về xây dựng cơ sở hạ tầng và thu hút đầu tư.
- Về lao động, có hơn 50% là lao động từ các tỉnh khác đến, việc ăn ở tạm bợ, đi lại gây ùn tắc giao thông giao thông vào giờ cao điểm đã tác động đến nhiều lĩnh vực kinh tế khác của thành phố mà hiện tại các cơ quan chức năng chưa có giải pháp nào hữu hiệu được triển khai.
- Các KCN-KCX hiện nay chưa đặt vấn đề bảo vệ môi trường, biện pháp xử lý các chất thải trong công nghiệp……. chưa được đề cập và giải quyết triệt để.
- Việc cạnh tranh không lành mạnh về giá thuê đất của một số KCN trong và ngoài địa bàn thành phố dẫn đến việc thu hút đầu tư của một số KCN bị hạn chế; bên cạnh đó còn kéo theo cả một số doanh nghiệp sản xuất gây ô nhiễm vào khu vực không đúng quy hoạch.
- Giá thuê đất tại KCN thực tế còn quá cao đối với một số doanh nghiệp khi họ muốn di dời vào KCN để sản xuất, thêm vào đó họ phải trả các chi phí dẫn đến giá thành sản phẩm của họ tăng lên không thể cạnh tranh với các doanh nghiệp cùng ngành nghề nhưng địa điển sản xuất ở địa bàn khác hoặc ngoài KCN.
- Những KCN không có lợi thế, ở xa trung tâm đô thị và đường giao thông, mức độ đầu tư cơ sở hạ tầng lớn thì giá cho thuê lại đất sẽ cao, việc thu hút đầu tư vào KCN này sẽ rất chậm.
- Một số công ty phát triển hạ tầng KCN sử dụng ngay diện tích đất chưa có cơ sở hạ tầng để cho doanh nghiệp thuê lại với giá rất cao, việc thu hút đầu tư vào các KCN này rất chậm.
Cơ chế cho thuê đất của bộ Tài chính kiến nghị Thủ tướng chính phủ sẽ phát sinh một số vấn đề sau:
- Các doanh nghiệp thuê đất phải ký kết 2 hợp đồng: một với Nhà nước về thuê đất và một với công ty phát triển hạ tầng về phí sử dụng hạ tầng, điều này sẽ tọa nên sự không đồng bộ trong thu hút đầu tư và quản lý điều hành hoạt động của KCN.
- Việc thay đổi cơ chế cho thuê đất khi các KCN tập trung đang bắt đầu phát huy tác dụng sẽ gây bất ổn trong chính sách của nhà nước, ảnh hưởng đến lòng tin của nhà đầu tư.
II.Kết quả thu hút vốn đầu tư trong những năm qua:
1/ Tình hình thu hút vốn đầu tư:
- Các Ban quản lý KCN-KCX thường xuyên quan hệ với các tổ chức ngoại thương và xúc tiến đầu tư của Nhật Bản, Hàn Quốc, Ðài Loan….để học tập, rút kinh nghiệm; tổ chức các đoàn của Ban quản lý và các công ty đầu tư và xây dựng KCN sang các nước vận động đầu tư và đón tiếp các đoàn doanh nghiệp của các nước đến KCX-KCN tìm kiếm cơ hội đầu tư để có thêm nhà đầu tư nứơc ngoài đầu tư vào KCN-KCX. Ngoài ra các công ty đầu tư xây dựng KCN còn vận động trực tiếp các nhà đầu tư trong nước, vừa thông qua việc cung cấp các dịch vụ thuận lợi cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đang hoạt động trong KCN để họ mời gọi bạn bè đầu tư vào KCN. Kết quả thu hút vốn đầu tư được thống kê một cách khá đầy đủ qua các bảng sau:
KCN, KCX Vốn đầu tư nước ngoài Vốn đầu tư trong nước
Vốn đầu tư (triệu USD) Trong đó Vốn đầu tư tỷ VNÐ Trong đó
Ðầu tư mới DN tăng vốn Ðầu tư mới DN tăng vốn
Số GPÐT Vốn đăng ký Số GPÐT Vốn tỷ VNÐ
Tân thuận 31,3 2 2,.00 29,3
Linh Trung 1 22,6 4 10,6 12
Linh Trung 2 7,33 7 7,33
Bình Chiểu 3,2 3,2
TânTạo 27,56 10 21,23 7,12 608,94 17 601,49 7,45
Vĩnh Lộc 16,51 11 14,75 1,76 459,02 17 443,36 15,66
- So sánh với năm 2000:
Tính gộp số vốn đăng ký của các GPD(T và tăng vốn, giảm vốn của các doanh nghiệp thì năm 2001, các KCN-KCX thu hút được sớ vốn cao hơn năm 2000
Tổng vốn của GPÐT và GPÐC Năm 2000 Năm 2001
Số vốn So với năm 2000
Vốn đầu tư nước ngoài
Vốn đầu tư trong nước
145,42 tr.USD
1.728,84 tỷ VNÐ
153,41tr.USD
2.053,01tỷ VNÐ
Tăng 5,5%
Tăng 35,6%
2/ Kết quả cộng dồn thu hút đầu tư của các KCN và KCX:
Số GPÐT và vốn đăng ký đầu tư hiện nay của các KCN và KCX
KCN-KCX Diện tích (ha) Ðầu tư nước ngoài Ðầu tư trong nước
Số GPÐT Vốn Tr.USD Số GPÐT Vốn Tỷ VNÐ
Tân thuận 300 114 615,65
Linh Trung 1 62 35 202,84
Linh Trung 2 62 8 7,63
Bình Chiểu 28 14 81,13 6 39,99
TânTạo 182 25 88,74 79 1.816,06
Vĩnh Lộc 200 22 31,07 31 899,98
Lê Minh Xuân 100 26 24,76 79 379,44
Tân Bình 1425 22 21,31 66 1.038,78
Tân Thới Hiệp 29 7 8,58 12 336,7
T.Bắc củ Chi 215 11 121,68 7 168,84
Hiệp Phước 332 2 31,40 2 125,58
Cộng: 1.652 286 1.234,79 280 4.805,37
- Số quốc gia, lãnh thổ nước ngoài đầu tư vào KCX và KCN là 18(Châu á: 9, Châu Âu và Mỹ: 6, Canada, úc… Trong đó 5 quốc gia, lãnh thổ có vốn đầu tư lớn nhất là:
+ Nhật bản: 408,80 Tr.USD – 55 GPÐT
+ Ðài Loan: 275,77 Tr. USD – 106 GPÐT
+ Hongkong:130,28 Tr.USD – 18 GPÐT
+ Hà Lan: 98,40 Tr.USD – 4 GPÐT
+ Hàn Quốc: 69,92 Tr.USD- 31 GPÐT
- Vốn đầu tư bình quân của một giấy phép đầu tư nước ngoài là 4,35 triệu USD, của một giấy phép đầu tư trong nước là 16,75 tỷ VNÐ. Tính riêng năm 2001, vốn đầu tư bình quân 1 GPÐT nước ngoài là 1,68 tr.USD, thấp mhơn mức bình quân của các năm trước; vốn bình quân của một GPÐT trong nước là 24,4 tỷ VNÐ, cao hơn mức bình quân củ các năm trước và gần bằng mức bình quân của 1 GPÐT nước ngoài năm 2002 (quy ra ngoại tệ là 1,63 tr.USD).
- Các ngành sản phẩm có vốn đầu tư chiếm tỷ lệ lớn trong tổng vốn đầu tư vào KCN và KCX (Linh Trung và Tân Thuận) là :
KCX Tân Thuận KCX Linh Trung Các KCN khác
Vốn nước ngoài Vốn trong Nước Vốn nước ngoài Vốn trong Nước
Ðiện, điện tử 30% Giày 34% H.chất, dược 23% Cao su, nhựa 25%
Dệt, may 18% Ðiện, điện tử 17% Thực phẩm 14% Dệt, may 20%
Cơ khí 14% Dệt, may 15% Gỗ,bao bì 11% Gỗ, bao bì 12%
Nhựa 11% Chế biến gỗ 8% Cơ khí 7% Thực phẩm 9%
- Kim ngạch xuất nhập khẩu của các KCN và KCX trong năm 2001:
+ Tính chung cho hai khu chế xuất: Kim ngạch xuất khẩu là 812,44 triệu USD, kim ngạch nhập khẩu là 651,79 triệu USD, so với năm 2000 tăng 9,6% , nhập khẩu tăng 1,1%. Mức tăng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu năm 2001rất thấp so với mức tăng hàng năm trên 30% của các năm trước.
+ Tính chung cho các KCN: kim ngạch nhập khẩu là 74,682 tr.USD, mua nguyên vật liệu thiết bị tại Việt Nam là 18,832 tr.USD, kim ngạch xuất khẩu là 37,998 tr.USD, tiêu thụ nội địa là 74,682 tr.USD (số liệu này chỉ đúng tương đương đối vì còn thiếu một số các doanh nghiệp chưa khai báo số liệu).
III.Phương hướng và mục tiêu phát triển của các KCN và KCX trong năm 2002
1/ Tiếp tục xây dựng cơ sở hạ tầng các KCN và KCX
- KCX Tân Thuận: khởi công xây dựng trung tâm hoạt động của công nhân, khu kho vân tại KCX Tân Thuận và kho hàng hó vận tải hàng không ở Tân Bình.
- KCX Linh Trung: hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng ở KCX Linh Trung 2.
- KCN Lê Minh Xuân tiếp tục thi công các công trình cơ sở hạ tầng khu 55 ha.
- KCN Vĩnh Lộc: đền bù, giãi toả 100% diện tích KCn, nâng cao nănglực trạm cung cấp nước, hoàn thành thiết kế và khởi công xây dựng trạm xử lý nước thải.
- KCN Tân Tạo: tiếp tục thi công để hoàn tất các công trình cơ sở hạ tầng trong đó có trạm sử lý nước thải của khu 182 ha, đồng thời tiến hành đền bù giải tỏa, xây dựng cơ sở hạ tầng khu mở rộng 262 ha.
- KCN Tân Bình tiếp tục thi công các công trình cơ sở hạ tầng trên diện ti`1ch hiện nay, hoàn thành thiết kế và khởi công xây dựng trạm sử lý nước thải; chuẩn bị để triển khai diện tích 100 ha nếu được phép mở rộng.
- KCN Tân Thới Hiệp: thi công các công trình chiếu sáng, cây xanh, xử lý nước thải; nế được phép triển khai giai đoạn 2 sẽ tiến hành đền bù giải tỏa và khởi công xây dựng cơ sở hạ tầng.
- KCN Tây Bắc Củ Chi: giải tỏa 2/3 diện tích còn lại của KCN (118 ha), khởi công các tuyến đường chính, các công trình thoát nước mưa, nước thải, chiếu sáng, cây xanh với tổng dự toán trên 80 tỷ VNÐ.
- KCN Hiệp Phước: thi công công trình cấp nước cho KCN, giải tỏa 147 ha còn lại, đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng để có thể tiếp nhận các dự án đầu tư lớn.
- KCN Cát Lái: bắt đầu đền bù giải tỏa mặt bằng và khởi công xây dựng cơ sở hạ tầng.
2/ Kế hoạch thu hút vốn đầu tư trong năm 2002
- Tranh thủ cơ hội đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có xu hướng gia tăng để đẩy mạnh vận động đầu tư, phấn đấu năm 2002 thu hút vốn đầu tư kề cả trong và ngoài nước quy ra ngoại tệ đạt 355 tr.USD, tăng 15% so với năm 2001. Cụ thể cho từng KCN và KCX như sau:
KCN, KCX Vốn đầu tư quy ra triệu USD Diện tích đất cho thuê và dặt cọc thuê (ha) Tỷ lệ lấp kín KCN, KCX (%)
Tân thuận 50 20 85%
Linh Trung 1 đã hết đất cho thuê
Linh Trung 2 30 15 60%
TânTạo 65 20 đầy khu 182 ha, 20% khu 262 ha
Vĩnh Lộc 25 20 80%
Lê Minh Xuân 20 15 75%
Tân Bình 25 10 85% (không tính phần mở rộng)
Tân Thới Hiệp 10 5 100% giai đoạn 1: 29 ha
T.Bắc củ Chi 30 25 80%
Hiệp Phước 100 60 50%
3/ Một giải pháp đối với các vấn đề phát sinh trong thời gian tới:
- Hiện tại thành phố Hồ Chí Minh đang thực hiện chính sách di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm vào KCN và vùng phụ cận nên tỷ lệ lấp đầy các KCN, Cụm công nghiệp là một vấn đề mang tính khách quan do đó việc phát triển các KCN, Cụm công nghiệp mới trong thời gian tới cần phải quy hoạch hết sức thận trọng; chương trình này cần phải kết hợp với các chương trình chỉnh trang đô thị, đổi mới thiết bị, đào tạo nguồn nhân lực….. bên cạnh đó cần phải có các chính sách hỗ trợ của nhà nước trong việc thiết lập các KCN, Cụm công nghiệp mới trong việc đền bù giải tỏa, xây dựng cơ sở hạ tầng giúp cho các doanh nghiệp khi di dời vào KCN và CCN sẽ không bị đẩy chi phí giá thành sản phẩm quá cao khó cạcnh tranh với các doanh nghiệp khác kinh doanh cùng sản phẩm nhưng ở địa bàn khác.
- Các KCN, CCN nếu được quy hoạch nhà nước cần ưu tiên tập trung vốn để giải quyết dứt điểm vấn đề đền bù, giải tỏa tránh tình trạng kéo dài việc đền bù giải toả hoặc khi đã xây dựng xong cơ sở hạ tầng cho các KCN, CCN người dân gây áp lực đòi tăng giá đền bù gây thiệt hại cho các KCN trong vấn đề cho thuê đất sau này.
- Các KCN, CCN cần phải có dự án xây dựng ngay các nhà máy xử lý nước thải, chất thải song song ngay khi xây dựng cơ sở hạ tầng tránh tình trạng tại các KCN,CNN trở thành địa điểm gây ô nhiễm tập trung. Công việc này Nhà nước nên sử dụng vốn ngân sách để thực hiện, hỗ trợ nhằm hạ chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng xuống giúp cho chi phí của doanh nghiệp không bị đẩy lên cao
- Việc phát triển các CCN trong thời gian tới là rất cần thiết vì mô hình này có quy mô nhỏ dễ phù hợp với những doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn, nhân công ít, máy móc còn lạc hậu…. mô hình này có thể là một bước quá độ trong một thời gian để họ có thể chuyển đổi ngành nghề hoặc thay đổi trang thiết bị sản xuất hiện đại mà không bị sốc khi phải tiếp cận ngay với mô hình khu công nghiệp hiện đại với những máy móc thiết bị và công nghệ tiên tiến; việc đầu tư cho CCN cũng ít vốn hơn sẽ làm giảm áp lực về tài chính cho nhà nước.
- Việc hình thành các KCN, CCN cũng cần phải tăng cường các dịch vụ kèm theo (điện thoại, ngân hàng, tư vấn, bưu điện, giao thông….) để phục vụ các doanh nghiệp, trong đó quan trong nhất là các dịch vụ về ngân hàng giúp cho những doanh nghiệp thiếu vốn có thể đáp ứng kịp với nhu cầu và cơ hội kinh doanh của họ.
khu cong nghiep , khu công nghiệp , khu cong nghiep

(khu công nghiệp) http://khucongnghiep.net Khu công nghiệp vừa và nhỏ

Khu công nghiệp vừa và nhỏ

khu cong nghiep
Các khu công nghiệp nhỏ tại Diễn Châu Nghệ An
khu cong nghiep
Diễn Châu là một trong những huyện có nhiều nỗ lực trong phát triển các khu công nghiệp nhỏ. Hiện toàn huyện đã quy hoạch 4 khu công nghiệp nhỏ và đã đưa khu công nghiệp nhỏ Diễn Hồng vào hoạt động khá hiệu quả. Tuy vậy việc phát triển các khu công nghiệp nhỏ ở đây vẫn vướng về cơ chế ?
Hiện Diễn Châu đã hình thành 3 khu công nghiệp nhỏ (KCNN) bao gồm: KCNN Diễn Hồng, KCNN Diễn Tháp, KCNN chế biến hải sản Diễn Ngọc và 1 khu đô thị – KCNN Diễn Kỷ. Mỗi khu công nghiệp nhỏ đều có chức năng riêng nhằm phát huy lợi thế để phát triển các ngành nghề phù hợp với điều kiện, khả năng cho phép và đang được quy hoạch xây dựng độc lập tách rời khu dân cư. Chẳng hạn, Khu công nghiệp nhỏ Diễn Tháp diện tích 15 ha đã phê duyệt xong dự án đầu t đang thực hiện bước phê duyệt TKKT-TDT công trình. Nhiệm vụ chế biến nông lâm ngư cơ khí, trong đó tập trung hàng mộc dân dụng xuất khẩu và sản xuất phôi thép. Hiện KCNN Diễn Tháp đã có 83 doanh nghiệp và hộ đăng ký đầu tư; trong đó có 10 doanh nghiệp đã xây dựng dự án sản xuất như dự án chế biến phôi thép, chế biến bột đá siêu mịn, nguyên liệu thức ăn gia súc, phân bón tổng hợp NPK…Được biết, mỗi dự án có tổng mức đầu tư từ 10 tỷ đồng trở lên. KCNN Diễn Ngọc tập trung phát triển chế biến hải sản với diện tích trên 2 ha đã có 22 hộ gia đình đăng ký đầu tư.
Khu CNN Diễn Hồng nằm cạnh Quốc lộ 1 được đánh giá là một trong những khu công nghiệp nhỏ ra đời sớm, hoạt động khá sôi động, hiệu quả. Diện tích của KCNN này chỉ 10 ha, hiện đã lấp đầy với 11 doanh nghiệp, 30 hộ tư nhân đầu tư sản xuất kinh doanh. Đến nay, đã có 39/41 cơ sở được thuê đất trong KCNN và thực hiện đầu tư theo dự án được phê duyệt. Riêng 2 dự án đăng ký sản xuất lắp ráp động cơ Diezen và thiết bị phụ tùng Diezen đang được lập hồ sơ điều chỉnh chấp nhận đầu tư. Có thể nói đến thời điểm này hoạt động của khu công nghiệp khá sôi động. Bên cạnh thu gom tái chế các loại phế liệu, sản xuất phôi thép, KCN đã tham gia sản xuất gia công nhiều mặt hàng sản phẩm phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng như thép xây dựng, tôn lợp, xà gồ sắt mã kẽm. Trung bình mỗi năm KCN Diễn Hồng đã sản xuất hàng ngàn tấn phôi thép, trên 150 ngàn m2 tôn lợp, trên 500 tấn xà gồ thép.v.v…
Mặc dù đạt được kết quả trên, nhưng hiện nay việc phát triển các KCNN Diễn Châu vẫn đang vấp phải một số khó khăn lớn. Nan giải nhất là chính sách thu hồi đất và kinh phí xây dựng hạ tầng trong và ngoài hàng rào. Chủ tịch UBND huyện Ngô Đình Nhậm phân trần: Theo quy định mỗi mét vuông đất nông nghiệp khi thu hồi phải đền bù cho dân 60 ngàn đồng, tương đương gần 30 triệu/sào (600 triệu/ha). Tính ra, số tiền đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng hạ tầng cho KCNN Diễn Tháp hết gần 50 tỷ đồng. Thế nhưng theo cơ chế của Quyết định 83 ngày 4/9/2009 của UBND tỉnh về chính sách hỗ trợ bồi thường giải phóng mặt bằng và xây dựng hạ tầng KCNN trên địa bàn tỉnh, thì mỗi ha đất thu hồi tỉnh chỉ hỗ trợ 100 triệu đồng và mỗi khu CNN ngân sách tỉnh chỉ hỗ trợ 3 tỷ xây dựng hạ tầng kỹ thuật trong bờ rào… Số thiếu hụt huyện phải tự bỏ nhưng rất khó nguồn thu ngân sách rất hạn hẹp. Có ý kiến cho là tỉnh đã có cơ chế cho huyện thu phần tiền thuê đất để chi xây dựng hạ tầng. Song với mức thuê như hiện nay thì chẳng đáng bao nhiêu và thực tế muốn thu được tiền thuê đất của các nhà đầu tư thì cũng phải xây dựng xong hạ tầng. Nghịch lý hiện nay là mặc dù rất nhiều doanh nghiệp, doanh nhân đăng ký đầu tư triển khai, nhưng tại KCNN Diễn Tháp mới thu hồi được diện tích làm đường từ Quốc lộ 1 vào khu công nghiệp, số diện tích còn lại gần 15 ha vẫn là đất ruộng của dân. Tương tự KCNN Diễn Kỷ quy hoạch 43 ha, bây giờ huyện mới làm được con đường vào, diện tích còn lại vẫn là ruộng.
khu cong nghiep , khu công nghiệp , khu cong nghiep
khu công nghiệp

(khu công nghiệp) http://khucongnghiep.net , việc làm khu công nghiệp, khu cong nghiep

Khu công nghiệp môi trường xanh

khu cong nghiep
Bảo vệ môi trường KCN, KCX tại Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) là thành phố đông dân nhất cả nước, các KCX, KCN đều tiếp giáp với các khu dân cư đông đúc. Vì vậy, công tác bảo vệ môi trường luôn được các cấp, các ngành quan tâm. Ban Quản lý các KCX và công nghiệp TPHCM (HEPZA) đã tập trung cao độ trong công tác quản lý và đạt được kết quả ngày càng tốt hơn.
Tình hình phát triển các KCX, KCN trên địa bàn
Tính đến 31/12/2010, trên địa bàn TPHCM đã hình thành hệ thống 16 KCX, KCN với diện tích đất đã thực hiện 3.614,23 ha. Trong đó, có 13 KCX, KCN đã đi vào hoạt động; 2 KCN đang triển khai hạ tầng (KCN Phong Phú và KCN Đông Nam) và 1 KCN đang trong giai đoạn thực hiện quy hoạch (KCN Phú Hữu). Ngoài ra, TPHCM còn có 6 KCN dự kiến thành lập bao gồm: Bàu Đưng, Phước Hiệp, Xuân Thới Thượng, Vĩnh Lộc 3, Lê Minh Xuân 2, Lê Minh Xuân 3 với tổng diện tích 1.455 ha (trong đó Phước Hiệp đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư và đang từng bước hoàn tất các thủ tục pháp lý có liên quan); 4 KCN dự kiến mở rộng bao gồm Hiệp Phước giai đoạn 3, Vĩnh Lộc, Tây Bắc Củ Chi và Lê Minh Xuân với tổng diện tích 849 ha. Mục tiêu của các KCN mới và mở rộng là thu hút các ngành mũi nhọn theo định hướng phát triển của thành phố và bảo vệ môi trường, bao gồm điện – điện tử, hóa chất, cơ khí, và chế biến lương thực – thực phẩm; tạo động lực vững chắc cho thành phố phát triển. Như vậy, đến năm 2020, TPHCM sẽ có tổng cộng 22 KCX, KCN tập trung với tổng diện tích 5.918 ha.
Tính đến nay, tại các KCX, KCN trên địa bàn TPHCM có 1.206 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký 5,386 tỉ USD. Trong đó, có 725 dự án có vốn đầu tư trong nước, vốn đầu tư đăng ký trên 2,43 tỉ USD và 481 dự án có vốn đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư đăng ký trên 2,94 tỉ USD. Diện tích đất thuê lũy kế 1.218,54 ha/1.609,95ha đất thương phẩm của 13 KCX, KCN (tỷ lệ lấp đầy bình quân 75,69%).
Kim ngạch xuất khẩu lũy kế đến nay đạt 22,56 tỉ USD; tổng số lao động làm việc tại các KCX, KCN là 255.855 người, trong đó lao động nữ chiếm 65%, số lao động nước ngoài đang làm việc là 2.106 người.
Về cơ sở hạ tầng, các KCX, KCN đang hoạt động về cơ bản đã hoàn thành các hạng mục hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho hoạt động sản xuất của nhà đầu tư, đạt từ 70 – 90%. Một số khu thực hiện duy tu bảo dưỡng các công trình hạ tầng và tiến hành xây dựng một số hạng mục công trình hạ tầng xã hội, phúc lợi cho công nhân.
Tình hình bảo vệ môi trường các KCX, KCN tại TPHCM
Quyết định số 76/2002/QĐ-UBND về Quy chế quản lý nhà nước về môi trường đối với các KCX và KCN trên địa bàn TPHCM do UBND TPHCM ban hành là quy chế đầu tiên trong cả nước về lĩnh vực quản lý môi trường các KCX, KCN.
Thực hiện Quyết định 76/2002/QĐ-UB, HEPZA chủ động phối hợp chặt chẽ với Sở Tài nguyên và Môi trường tiến hành kiểm tra, giám sát hoạt động bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp (DN) trong KCX, KCN và tiến hành thanh tra nếu các DN này có dấu hiệu vi phạm.
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, do các quy định về bảo vệ môi trường chưa được chặt chẽ, việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT chưa thật nghiêm khắc. Tại các KCN, vẫn có trường hợp một số DN đấu nối trái phép nước thải vào nước mưa, nhiều chủ DN có hành vi đối phó với cơ quan quản lý nhà nước trong vấn đề BVMT bằng cách xây dựng và lắp đặt hệ thống xử lý ô nhiễm cục bộ, chỉ vận hành hệ thống khi có kiểm tra. Một số DN có xây dựng hệ thống xử lý nước thải (XLNT) cục bộ nhưng đã xuống cấp, hiệu quả xử lý không cao, có DN không vận hành, thoát nước thải vượt quá tiêu chuẩn cho phép đưa vào mạng lưới thu gom, dẫn đến tình trạng quá tải của hệ thống XLNT tập trung KCX, KCN. Tình trạng khai thác nước ngầm vẫn chưa kiểm soát được, dẫn đến không kiểm soát được lưu lượng nước thải đưa về các nhà máy XLNT tập trung của KCX, KCN.
Trong giai đoạn này, chỉ có 6/13 KCX, KCN đang hoạt động có hệ thống XLNT tập trung, các KCN còn lại đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Việc đấu nối thoát nước vào mạng lưới thu gom được các Công ty Phát triển hạ tầng (PTHT) bắt đầu quan tâm. Ngoài ra, hoạt động BVMT của Công ty PTHT chỉ tập trung cho công tác vận hành hệ thống XLNT tập trung của khu.
Ngày 14/3/2008 Chính phủ ban hành Nghị định 29/2008/NĐ-CP về KCN, KCX và KKT, HEPZA đã nghiêm túc triển khai thực hiện những nhiệm vụ cụ thể như sau:
Công tác quản lý
- Tập trung chỉ đạo các KCN chưa xây dựng nhà máy XLNT tập trung phải khẩn trương lên kế hoạch và đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà máy XLNT tập trung, nhanh chóng đưa vào vận hành. Tính đến 31/12/2008, 100% KCX, KCN đang hoạt động trên địa bàn thành phố đã xây dựng xong nhà máy XLNT tập trung và hoàn thiện cơ bản mạng lưới thu gom nước thải, từng bước đôn đốc DN đấu nối thoát nước.
- Thành lập Phòng quản lý môi trường và tăng cường thêm cán bộ có chuyên môn chuyên ngành cho phòng để thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về BVMT.
- Yêu cầu các Chủ đầu tư KCX, KCN thành lập Bộ phận chuyên trách BVMT tại các KCX, KCN, trong đó có một lãnh đạo Công ty PTHT phụ trách. Bộ phận BVMT là lực lượng tại chỗ, có thể giám sát 24/24 tình hình môi trường phát sinh trên địa bàn. Hiện nay, số lượng cán bộ của Bộ phận BVMT các KCX, KCN là trên 120 người, có chuyên môn chuyên ngành và được đào tạo để thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát các hoạt động BVMT của DN trong KCX, KCN, phát hiện các hành vi vi phạm về môi trường, vận hành hệ thống xử lý nước thải.
- Tham mưu cho UBND Thành phố quyết định thành lập Thanh tra HEPZA để xử lý vi phạm và nâng cao hiệu quả quản lý các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực BVMT.
- Định kỳ tổ chức họp giao ban công tác quản lý môi trường với các Công ty PTHT KCX, KCN luân phiên tại từng KCX, KCN, có tham quan thực tế hệ thống XLNT tập trung của KCX, KCN để trao đổi kinh nghiệm và kịp thời hỗ trợ trong công tác quản lý môi trường.
- Làm việc với Lãnh đạo các DN vi phạm về môi trường để lắng nghe khó khăn của DN trong công tác BVMT, chỉ rõ việc vi phạm và yêu cầu các DN khắc phục.
- Công khai danh sách DN vi phạm pháp luật về môi trường và danh sách DN đã khắc phục vi phạm về BVMT trên Trang thông tin điện tử của HEPZA (www.hepza.gov.vn). Ngoài ra còn giới thiệu các đơn vị tư vấn – cung ứng dịch vụ bảo vệ môi trường có năng lực chuyên môn để DN tham khảo hợp tác.
- Tổ chức tập huấn, tuyên truyền đến DN các nội dung pháp luật về BVMT, quản lý chất thải rắn.
Công tác thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết BVMT và đề án BVMT:
Ngày 13/4/2009, UBND Thành phố ban hành Quyết định số 30/2009/QĐ-UBND quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của HEPZA; đồng thời, ủy quyền cho HEPZA thực hiện một số chức năng, nhiệm vụ đã được giao tại Nghị định 29/2008/NĐ-CP về quản lý môi trường: tổ chức thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; làm việc với UBND các quận/huyện có KCX, KCN; ủy quyền cho HEPZA cấp xác nhận Cam kết BVMT cho các DN đầu tư vào KCX, KCN. Theo đó, hoạt động thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, phê duyệt/xác nhận đề án BVMT, xác nhận đăng ký cam kết BVMT đã đi vào nề nếp.
Tính đến nay, HEPZA đã phê duyệt 42 đề án BVMT; xác nhận 97 đề án BVMT; xác nhận hoàn thành 65 đề án BVMT; thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường cho 19 dự án; xác nhận đăng ký 64 Cam kết Bảo vệ môi trường và 02 Cam kết Bảo vệ môi trường bổ sung cho các DN trong KCX, KCN.
Công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm về BVMT
Từ năm 2001 – 2006, HEPZA đã chủ động kiểm tra và phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường kiểm tra, thanh tra về môi trường đối với 2.165 lượt DN. Trong năm 2007 đã xử phạt 77 trường hợp. Từ tháng 7/2009, Thanh tra HEPZA được UBND Thành phố quyết định thành lập với biên chế 10 người và giao nhiệm vụ thực hiện chức năng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT đối với các DN trong KCX, KCN. Năm 2010, thanh tra 114 DN, xử phạt vi phạm hành chính 45 DN. Với việc thành lập Thanh tra Ban Quản lý, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm hành chính được thực hiện nhanh chóng, có hiệu quả; tình hình vi phạm pháp luật về môi trường của DN trong KCX, KCN giảm rất nhiều, góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp trong KCX, KCN, tăng cường kỷ cương, hiệu lực quản lý nhà nước đối với các KCX, KCN. Theo đó, công tác BVMT được cải thiện rõ rệt, số vụ việc và mức độ vi phạm giảm.
Trong quá trình quản lý, HEPZA đã phát hiện nhiều trường hợp DN không có phòng thí nghiệm, máy móc thiết bị và nhân lực nhưng vẫn tổ chức dịch vụ phân tích chất lượng môi trường, số liệu phân tích không chính xác, bất hợp lý. Ngoài ra, việc kiểm định các thiết bị đo đạc chất lượng môi trường còn bỏ ngỏ, chỉ có một số ít phòng thí nghiệm được cấp chứng chỉ Villas phải tuân thủ việc kiểm định thiết bị theo quy định của ISO 17025 và của đơn vị công nhận.
Công tác thu gom và vận hành nhà máy xử lý nước thải tập trung
Đến nay, 13/13 KCX, KCN đang hoạt động đều có nhà máy XLNT tập trung vận hành ổn định và tất cả các KCX, KCN đã hoàn chỉnh mạng lưới thu gom nước thải; đấu nối hoàn chỉnh nước thải từ các DN vào hệ thống thu gom chung của KCX, KCN. Tổng công suất có khả năng xử lý của các nhà máy XLNT tại các KCX, KCN của thành phố hiện là 53.000 m3/ngày.
Một số kiến nghị
Nhìn chung, Nghị định số 29/2008/NĐ-CP của Chính phủ đã có một bước tiến lớn, trong đó phát huy cơ chế “Một cửa, tại chỗ” nhằm tăng cường thu hút đầu tư, giảm phiền hà cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc chậm ra văn bản hướng dẫn thực hiện đã làm cho Ban Quản lý KCN cấp tỉnh lúng túng trong thực hiện.
Hiện nay, HEPZA rất hạn chế tiếp nhận đầu tư các DN thâm dụng lao động, ô nhiễm môi trường, chỉ tiếp nhận dự án đầu tư có giá trị gia tăng cao, công nghệ cao theo 3 mũi nhọn của TPHCM: điện – điện tử, cơ khí chính xác, hóa dược – chế biến lương thực thực phẩm.
Từ thực tế công tác BVMT tại địa phương, HEPZA xin đề xuất một số ý kiến để tăng cường thực hiện công tác BVMT tại các KCX, KCN như sau:
- Sớm sửa đổi Thông tư 08 để tiếp tục hoàn thiện mô hình quản lý môi trường các KCX, KCN; nâng cao vai trò trách nhiệm của các Công ty PTHT KCX, KCN trong việc nắm tình hình, kiểm tra, giám sát hoạt động BVMT của DN trong KCX, KCN; tiếp tục phát huy vai trò của bộ phận chuyên môn về BVMT của KCX, KCN.
- Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra các DN về công tác BVMT. Tuy nhiên, công tác thanh tra cần phải có kế hoạch, tránh chồng chéo. Từng bước hạn chế việc khai thác, sử dụng nước ngầm để bảo vệ nguồn tài nguyên nước ngầm chung. Ngành Tài nguyên và Môi trường phối hợp với ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và địa phương rà soát, xác định các nguồn thải trên địa bàn để có cơ sở xác định trách nhiệm của các đơn vị xả nước thải làm ảnh hưởng đến môi trường; thống nhất một đầu mối cấp phép xả thải đối với KCN ven kênh thủy lợi.
- Tăng cường đào tạo, tập huấn và bồi dưỡng các kiến thức quản lý BVMT cho các bộ phận môi trường KCX, KCN và các nhân viên chuyên trách về môi trường của các DN trong KCX, KCN; nâng cao nhận thức về BVMT trong giới chủ DN.
- Cơ quan có thẩm quyền chỉ đạo xây dựng hệ thống quan trắc tự động từ ngân sách nhà nước để có hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác quản lý và giám sát, kiểm tra chất lượng nước thải tại các KCX, KCN, kịp thời phát hiện các trường hợp xả thải vượt tiêu chuẩn cho phép ứng dụng các công cụ tin học trong công tác quản lý môi trường tại các cơ quan quản lý nhà nước và tại DN.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường sớm có văn bản hướng dẫn thủ tục về BVMT đối với các trường hợp doanh nghiệp đã đi vào hoạt động, sản xuất nhưng chưa thực hiện thủ tục môi trường thay thế cho Thông tư 04/2008/TT-BTNMT quy định chấm dứt việc làm Đề án BVMT từ ngày 31/12/2009 để tháo gỡ các vướng mắc cho các DN, vì trong thực tế, việc các DN sang nhượng, cho thuê lại nhà xưởng rất phổ biến.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng các bộ, ngành liên quan nghiên cứu hướng dẫn cấp phép, quản lý hoạt động sau cấp phép của các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tư vấn về môi trường và dịch vụ phòng thí nghiệm, phân tích chất lượng môi trường nhằm đảm bảo chất lượng tư vấn về môi trường cho doanh nghiệp. Đồng thời, bảo đảm kết quả phân tích mẫu chính xác, khách quan, trung thực để phục vụ cho công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, đảm bảo được tính chính xác, hạn chế việc khiếu nại của doanh nghiệp.
khu cong nghiep , khu công nghiệp , khu cong nghiep 
khu cong nghiep