Bài đăng phổ biến

Showing posts with label vietnam industrial zones. Show all posts
Showing posts with label vietnam industrial zones. Show all posts

Thursday, June 2, 2011

(khu cong nghiep) http://khucongnghiep.net Cần Thơ:năm 2011, các khu công nghiệp thu hút 3 dự án mới

(khu cong nghiep) http://khucongnghiep.net Cần Thơ:năm 2011, các khu công nghiệp thu hút 3 dự án mới


khu cong nghiep
Can Tho: Thang 1-2011, cac khu cong nghiep thu hut 3 du an moi
Trong năm 2011, các khu công nghiệp Cần Thơ thu hút 3 dự án mới với vốn đầu tư 12,9 triệu USD.
 Đó là các dự án dậy chuyền sản xuất Zeolite của Công ty CP phân bón và hóa chất Cần Thơ; dự án xử lý nước thải của Doanh nghiệp tư nhân Mạnh Tiến và dự án sản xuất nước uống Collagen của Công ty CP thủy sản Bình An. Như vậy, đến nay, các khu công nghiệp và chế xuất Cần Thơ đã thu hút 195 dự án trong đó có 156 dự án đang hoạt động, 27 dự án đang xây dựng với tổng số vốn đăng ký là 1.725 tỉ USD, diện tích thuê đất 5.465.183 m2.
năm 2011, các doanh nghiệp đạt giá trị sản lương tăng 26% so với cùng kỳ năm 2010 trong đó giá trị xuất khẩu đạt gần 59 triệu USD, tăng 11% so với cùng kỳ năm ngoái. Ngay sau những ngày nghỉ tết Tân Mão, sáng mồng 4 tết một số doanh nghiệp đã trở lại hoạt động và đến mồng 6 tết tức năm 2011, tất cả các doanh nghiệp đều trở lại sản xuất bình thường với quyết tâm cao.
Một số DN như: Công ty TNHH May Việt Thành, Công CP May Meko, Công ty CP ADC đều lên kế hoạch mở rộng sản xuất, chú trọng nâng cao chất lượng để cạnh tranh trên thị trường. Các DN kiến nghị lãnh đạo thành phố Cần Thơ cần có cơ chế thông thoáng và chính sách hỗ trợ vốn để DN mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất.(nguồn baomoi.com)
tham khảo:khu cong nghiep , khu công nghiệp , khu cong nghiep ,
khu cong nghiep
truyen thong truc tuyen
Tháng Năm 18, 2011

(khu cong nghiep) http://khucongnghiep.net Dự án khu công nghiệp Ninh Thủy thuộc khu kinh tế Vân Phong, Khánh Hòa

bởi khucongnghiep999
khu cong nghiep
Dự án có diện tích 208 ha với vốn đầu tư 346 tỉ đồng, dự kiến thực hiện trong 2 giai đoạn, lần lượt hoàn thành vào cuối năm 2011 và 2012.
Dự án khu công nghiệp Ninh Thủy thuộc khu kinh tế Vân Phong, Khánh Hòa - Ảnh minh họaDự án khu công nghiệp Ninh Thủy thuộc khu kinh tế Vân Phong, Khánh Hòa – Ảnh minh họa
Theo Công ty, mục tiêu của dự àn là thu hút phát triển công nghiệpphụ trợ cho các ngành đóng tàu, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí, hóa chất, chế biến…
(nguồn khudothimoi.com)
tham khảo:khu cong nghiep , khu công nghiệp , khu cong nghiep
Tháng Năm 18, 2011

(khu cong nghiep) http://khucongnghiep.net Khởi công xây dựng nhà máy gang thép tại Sơn La

bởi khucongnghiep999
khu cong nghiep
Khởi công xây dựng nhà máy gang thép tại Sơn La

Ngày 14/5/2011, tại trấn Ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, Công ty Cổ phần Gang thép Sơn La đã làm lễ khởi công dự án xây dựng nhà máy luyện gang, thép do công ty làm chủ đầu tư.

CôngThương - Đây là nhà máy luyện gang thép hiện đại và khép kín từ khâu khai thác, tuyển luyện quặng đến sản xuất các sản phẩm gang thép đầu tiên trong vùng Tây Bắc. Theo thiết kế, nhà máy có công suất 300.000 tấn/năm với tổng số vốn đầu tư lên đến 1.700 tỷ đồng và được chia làm 2 giai đoạn đầu tư, mỗi giai đoạn đạt ½ tổng công suất thiết kế.
Phát biểu trong lễ khởi công, đại diện UBND tỉnh Sơn La khẳng định, đây là một trong những dự án trọng điểm của tỉnh Sơn La trong năm 2011. Việc đầu tư xây dựng nhà máy tại địa bàn huyện Mường La sẽ giúp khai thác tiềm năng, thế mạnh của các điểm mỏ quặng trong vùng. Đồng thời, tạo tiền đề cho sự phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng phục vụ ngành cơ khí và các nhà máy thủy điện, xi măng trên địa bàn tỉnh Sơn La.
Theo đại diện Công ty Cổ phần gang thép Sơn La, cùng với việc tích cực triển khai đầu tư xây dựng nhà máy, Công ty đã xây dựng kế hoạch tuyển dụng và đào tạo trên 400 lao động là người địa phương để làm việc trong nhà máy và tại các điểm mỏ khai thác quặng.(nguồn baocongthuong.com.vn)
tham khảo:khu cong nghiep , khu công nghiệp , khu cong nghiep
Tháng Năm 18, 2011

(khu cong nghiep) http://khucongnghiep.net Từ 1/7/2011, thí điểm vận hành thị trường phát điện cạnh tranh

bởi khucongnghiep999
khu cong nghiep
Từ 1/7/2011, thí điểm vận hành thị trường phát điện cạnh tranh

Sáng nay (18/5), tại Hà Nội, Bộ Công Thương đã tổ chức hội nghị triển khai thị trường phát điện cạnh tranh thí điểm với nội dung quan trọng: từ 1/7 năm nay sẽ vận hành thí điểm thị trường này.

CôngThương - Như đã biết, Luật  Điện lực được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ năm 2005 đã quy định, thị trường điện lực cạnh tranh sẽ được hình thành và phát triển tại Việt Nam tuân thủ các nguyên tắc chính, gồm: bảo đảm tính công khai, bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, không phân biệt đối xử giữa các đối tượng tham gia thị trường. Đồng thời, Luật cũng quy định thị trường điện lực được hình thành và phát triển theo 3 cấp độ: (1) Thị trường phát điện cạnh tranh; (2) Thị trường bán buôn điện cạnh tranh và (3) Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh.
Triển khai các nội dung quy định tại Luật Điện lực, Chính phủ và các bộ, ngành đã tích cực chuẩn bị các điều kiện để thực hiện lần lượt các cấp độ phát triển. Hiện chúng ta đang chuẩn bị thực hiện cấp độ 1– thị trường phát điện cạnh tranh– với mục tiêu tạo ra “sân chơi” lành mạnh giữa các đơn vị phát điện, khuyến khích tiết kiệm chi phí cho khâu sản xuất, truyền tải, phân phối để có được giá điện hợp lý, minh bạch tới người tiêu dùng. Đồng thời để tạo tín hiệu tốt, thu hút các nguồn đầu tư vào phát triển điện.
Tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng cho biết, thực hiện lộ trình phát triển thị trường điện đã được phê duyệt tại Quyết định số 26/2006/QĐ-TTg ngày 26/1/2006 của Thủ tướng Chính phủ, từ năm 2006 Bộ Công Thương đã giao cho Cục Điều tiết điện lực chủ trì cùng các đơn vị liên quan triển khai các bước chuẩn bị để đưa thị trường phát điện cạnh tranh Việt Nam vào vận hành, trong đó có thiết kế xây dựng thị trường phát điện cạnh tranh và xây dựng hệ thống các quy định đồng bộ cho hoạt động của thị trường này.
“Đến nay, các công tác chuẩn bị cho  thị trường phát điện cạnh tranh đã cơ bản hoàn thành” – Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng khẳng định.
Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng cho biết thêm, ngày 31/12/2009, “Thiết kế thị trường phát điện cạnh tranh Việt Nam (VCGM)” đã được phê duyệt tại Quyết định 6713/QĐ-BCT. Ngày 10/5/2010, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư 18/2010/TT-BCT quy định vận hành thị trường phát điện cạnh tranh. Ngoài ra, cũng đã có rất nhiều các quy định kỹ thuật khác đã được ban hành, như: Quy định lưới điện truyền tải, quy định lưới điện phân phối, quy định đo đếm điện năng; các quy định về giá điện gồm quy định về giá điện theo cơ chế thị trường, quy định giá phát điện, giá truyền tải…
Trên cơ sở tình hình chuẩn bị thực tế, đầu năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo từ ngày 1/7/2011 sẽ đưa thị trường phát điện cạnh tranh vào vận hành giai đoạn thí điểm. Thực hiện chỉ đạo này, Bộ Công Thương đã chỉ đạo Cục Điều tiết điện lực, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các đơn vị liên quan tiến hành các công tác chuẩn bị cho hoạt động của thị trường điện theo đúng tinh thần chỉ đạo của Chính phủ.
Tại hội nghị, đại diện Cục Điều tiết điện lực đã giới thiệu chi tiết về định hướng và lộ trình phát triển thị trường điện cạnh tranh; thiết kế thị trường phát điện cạnh tranh (VCGM); cơ chế vận hàng và kế hoạch thực hiện.
Theo đó, khi thực hiện thị trường phát điện cạnh tranh (trong giai đoạn 2005- 2014), tất cả các đơn vị phát điện độc lập được tham gia canh tranh bán điện cho đơn vị mua buôn duy nhất thông qua hợp đồng PPA và giao dịch trên thị trường điện giao ngay.
Ở thị trường bán buôn điện cạnh tranh (thực hiện trong giai đoạn 2015- 2022), các công ty phân phối độc lập cạnh tranh mua điện trực tiếp từ các đơn vị phát điện hoặc qua thị trường và ngược lại, các đơn vị phát điện cũng cạnh tranh để bán điện cho các đơn vị mua buôn. Các đơn vị bán buôn cạnh tranh để bán điện cho các đơn vị phân phối và các khách hàng lớn.
Còn ở thị trường bán lẻ điện cạnh tranh (sẽ thực hiện trong giai đoạn từ 2022 trở đi) khách hàng sử dụng điện trên toàn quốc có quyền lựa chọn đơn vị cung cấp điện cho mình hoặc mua điện từ thị trường.
Cũng trong hội nghị hôm nay, đại diện Cục Điều tiết điện lực đã giới thiệu chi tiết cấu trúc, cơ chế hoạt động, các đối tượng hoạt động, cơ chế giao dịch… của thị trường điện, trong đó, đáng chú ý là cơ chế các định giá điện năng thị trường. Theo đó, giá điện năng thị trường sẽ được áp dụng đồng nhất trên toàn quốc và áp dụng cơ chế giá trần thị trường để hạn chế tăng giá đột biến.
Ngoài ra, hội nghị hôm nay cũng đã giới thiệu đến các đại biểu về hợp đồng mua bán điện trong thị trường phát điện cạnh tranh; tổng quan hạ tầng công nghệ thông tin cũng như công tác vận hành thị trường phát điện cạnh tranh.(nguồn baocongthuong.com.vn)
tham khảo:khu cong nghiep , khu công nghiệp , khu cong nghiep
Tháng Năm 18, 2011

(khu cong nghiep) http://khucongnghiep.net Nguồn cung thép xây dựng bảo đảm tới tháng 7/2011

bởi khucongnghiep999
khu cong nghiep
Nguồn cung thép xây dựng bảo đảm tới tháng 7/2011Chú trọng phát triển mạng lưới bán lẻ là việc cần làm đối với Tổng công ty Thép Việt Nam

Chiều qua, 12/5, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hồ Thị Kim Thoa đã có buổi làm việc với lãnh đạo Hiệp hội Thép Việt Nam và Tổng công ty Thép Việt Nam (VNSteel) để đánh giá diễn biến thị trường thép xây dựng trong những tháng đầu năm, dự báo xu hướng và đề ra biện pháp bảo đảm cân đối cung cầu thép xây dựng.

CôngThương - Nguồn nguyên liệu “gối đầu” không thiếu
Theo Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), lượng sản xuất và tiêu thụ thép xây dựng trong quý 1/2011 tăng khá cao. Các đơn vị trong VSA đã sản xuất hơn 1,3 triệu tấn thép xây dựng, tăng 14,75% so với cùng kỳ năm 2010. Nếu tính cả sản xuất của các doanh nghiệp ngoài hiệp hội thì tổng sản lượng thép xây dựng cả nước ước đạt hơn 1,5 triệu tấn trong đó sản lượng của Tổng công ty Thép Việt Nam đạt hơn 641.000 tấn, chiếm 42- 43% sản lượng toàn ngành.
Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ thép xây dựng trong quý I/2011 cũng ở mức 1,5 triệu tấn (tiêu thụ thép sản xuất trong nước hơn 1,4 triệu tấn; nhập khẩu 186.000 tấn; xuất khẩu 80.259 tấn).
Tuy nhiên, bắt đầu từ cuối tháng 3, do tác động của tinh thần Nghị quyết 11 của Chính phủ, trong đó có biện pháp đình, dãn, hoãn một số công trình nên nhu cầu thép xây dựng giảm đáng kể. Vì thế, trong tháng 3 và tháng 4, các công ty tập trung vào xả hàng, tuy nhiên lượng tiêu thụ tháng 3 giảm trên 30% so với tháng 2. Sang tháng 4, mặc dù sản xuất thép xây dựng trong VSA giảm 10,18%, đạt 434.766 tấn, nhưng do một số công ty hạ giá bán nên lượng tiêu thụ tốt hơn, đạt 439.718 tấn, tăng trên 34% so với tháng trước.
Theo ông Phạm Chí Cường- Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam: Tính tới 30/4/2011, lượng thép tồn ở các công ty là 367.642 tấn, phôi thép tồn 500.000 tấn, đủ gối đầu cho tiêu dùng và sản xuất thép tới tháng 7/2011.
Như vậy có thể thấy, cân đối cung cầu trong quý I bảo đảm và nguồn cung trong quý 2 cũng không thiếu.
Theo Tổng công ty Thép Việt Nam, trên thực tế, tổng công suất sản xuất thép xây dựng của ngành đã vượt xa nhu cầu thị trường nội địa. Như năm 2010, nhu cầu tiêu thụ thép xây dựng cả nước chỉ bằng 80-81% năng lực sản xuất toàn ngành. Trong khi đó, tổng công suất cán thép xây dựng sẽ tiếp tục được nâng từ 7,83 triệu tấn/năm lên gần 9 triệu tấn/năm trong 2011. Do vậy, tới thời điểm này cũng như trong tương lai gần, thị trường thép xây dựng Việt Nam cung vẫn luôn vượt cầu.
Vì sao giá vẫn tăng?
Tiếp theo đà tăng giá trong những tháng cuối năm 2010, thị trường thép nội địa tiếp tục nóng lên trong quý 1/2011. Giá bán thép được điều chỉnh tăng nhiều lần với mức tăng trong quý 1 dao động từ 900.000 đến 1.600.000 đồng/tấn tùy theo từng chủng loại và thương hiệu. Nếu so với thời điểm cuối năm 2010, giá bán thép xây dựng đã tăng 10-18%, khoảng 1.400.000- 2.600.000 đồng/tấn.
Lý giải hiện tượng này, ông Trương Đình Việt- Trưởng phòng kế hoạch và đầu tư Tổng công ty Thép Việt Nam- cho biết: Trong thời gian trên, giá nhập khẩu nguyên liệu liên tục tăng, giá thép phế đã đạt đỉnh ngay trong tháng 1/2010 với mức 497- 504 USD/tấn. Tính đến cuối tháng 3/2011, giá thép phế nhập khẩu tăng 11% so với tháng 12/2010. Tương tự, giá nhập khẩu phôi thép đạt đỉnh vào tháng 3/2011, phổ biến 666-682 USD/tấn CFR, tăng 13% so với tháng 12/2010 và tăng 37% so cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, giá nguyên liệu chiếm tới 90% trong cơ cấu giá thép thành phẩm, mà Việt Nam chỉ mới đáp ứng 30% nhu cầu thép phế và khoảng 60% lượng phôi thép bán thành phẩm, nên giá bán nội địa còn phụ thuộc nặng nề vào giá thế giới.
Đó là chưa kể, việc điều chỉnh tăng 9,3% tỷ giá USD/VND từ 11/2/2011, mặt bằng lãi suất cho vay ở mức cao (từ 19 đến 21%), rồi giá điện, xăng dầu tăng tuy không tác động nhiều đến giá thành nhưng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, từ tháng 3/2011 tới nay, trong khi giá nguyên liệu trên thế giới vẫn có xu hướng tăng thì giá thép trong nước lại giảm do ảnh hưởng điều tiết các chính sách kinh tế vĩ mô, cắt giảm đầu tư công, thắt chặt chính sách tiền tệ. Do sức tiêu thụ giảm sút mạnh, các doanh nghiệp đã điều chỉnh giảm giá bán thông qua các biện pháp gián tiếp như tăng chiết khấu bán hàng từ 500.000 đến 900.000 đồng/tấn; hỗ trợ vận chuyển; trợ giá cho các công trình (mức trợ giá của Tổng công ty Thép Việt Nam đối với công trình sử dụng trên 500 tấn thép là 300.000 đồng/tấn).
Hệ thống bán lẻ có vấn đề
Theo ông Lê Phú Hưng- Quyền Tổng giám đốc Tổng công ty Thép Việt Nam (VNSteel): Để bình ổn thị trường, kiềm chế lạm phát, nhiều năm qua, giá bán thép của các doanh nghiệp VNSteel luôn thấp hơn giá thị trường, thậm chí, có thời điểm trong năm 2008, giá bán thép của VNSteel thấp hơn 2.000.000 đồng/tấn so với giá thị trường. Việc một mình Tổng công ty Thép Việt nam phải gồng mình bình ổn thị trường ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, làm giảm sút năng lực cạnh tranh của VNSteel. Từ năm 2011 tới nay, giá bán thép của công ty mẹ (Tổng công ty Thép Việt Nam) luôn giữ thấp hơn so với giá thị trường 250.000- 600.000 đồng/tấn. Tính ra, với lượng tiêu thụ hơn 112.000 tấn trong quý 1, hiệu quả kinh doanh của Công ty mẹ đã bị giảm hơn 41,7 tỷ đồng do thực hiện nhiệm vụ bình ổn.
Vì thế ông Lê Phú Hưng đề nghị, nếu VNSteel chiếm 26-27% thị phần toàn quốc thì nhiệm vụ bảo đảm nguồn cung cũng chỉ tương ứng với thị phần đó, chứ VNSteel không thể gánh trách nhiệm bình ổn cho toàn bộ thị trường trong nước.
Tại buổi làm việc, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hồ Thị Kim Thoa cho rằng: Trong nhiều năm qua, Hiệp hội Thép Việt Nam và Tổng công ty Thép Việt Nam đã đóng góp rất lớn cho ổn định thị trường, tuy nhiên phải nhìn nhận là hệ thống phân phối thép hiện đang có vấn đề, vì nguồn cung thép không thiếu, nhưng nguồn cung tại một số địa phương vào một số thời điểm vẫn thiếu hụt dẫn tới giá bán ra tăng vô lý. Hơn nữa, VNSteel giảm giá bán nhưng người sử dụng vẫn phải mua giá cao trên thị trường.
Nguyên nhân trên do hiện nay các doanh nghiệp lớn sản xuất thép ở trong nước, nhất là VNSteel, mới chủ yếu đầu tư phát triển một vài điểm bán buôn, chưa chú trọng phát triển hệ thống bán lẻ vì thế chưa điều tiết được thị trường, không kiểm soát được giá bán thép của mình ra thị trường. Những hạn chế này không chỉ khiến người mua thép cuối cùng thiệt thòi khi không tiếp cận sát được với giá bán của nhà sản xuất mà còn khiến doanh nghiệp sản xuất thép trong nước có thể bị doanh nghiệp phân phối nước ngoài dễ bề thôn tính cả hệ thống bán sỉ, nhất là khi Việt Nam đã mở cửa hội nhập- Thứ trưởng Thoa cảnh báo.
Vì thế, theo Thứ trưởng, thời gian tới, Tổng công ty Thép Việt Nam cũng như Hiệp hội Thép Việt Nam phải đưa nhiệm vụ xây dựng hệ thống bán lẻ thép xây dựng vào chủ trương, chiến lược và quy hoạch của ngành, đề xuất lên Bộ Công Thương có cơ chế hỗ trợ như Công ty sữa Vinamilk và Công ty Phân bón Hóa chất Dầu khí (Đạm Phú Mỹ).
Thứ trưởng cũng lưu ý, VNSteel và các doanh nghiệp thép cần nghiên cứu việc dự trữ bắt buộc (ngoài phần dự trữ của doanh nghiệp), có sự hỗ trợ lãi suất vốn vay của Nhà nước, để kịp thời tung hàng can thiệp khi xảy ra sốt giá. “Đây là cách làm mới, không chỉ yêu cầu đối với mặt hàng thép xây dựng mà còn đối với một số mặt hàng thiết yếu, vì thế có nhiều ý kiến là điều dễ hiểu”- Thứ trưởng Thoa kết luận.(nguồn baocongthuong.com.vn)
tham khảo: khu cong nghiep , khu công nghiệp , khu cong nghiep

(khu công nghiệp) http://khucongnghiep.net Tin tức khu công nghiệp

Tin tức khu công nghiệp

khu cong nghiep
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
khu cong nghiep
khu cong nghiep

I. TỔNG QUAN VỀ HIỆN TRẠNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ 1/ Thuận lợi:
– Nhìn chung các KCN&KCX đã đi vào hoạt động ổn định, đặc biệt là các KCN&KCX có cơ sở hạ tầng tương đối hoàn thiện; tính đến nay tỷ lệ lấp đầy tại các KCN-KCX đạt 70% ở giai đoạn 1; tỷ lệ lấp đầy tại các KCN-KCX trên địa bàn thành phố từ 50% trở lên có 9 khu còn lại một vài khu tỷ lệ lấp đầy chưa cao là do cơ sở hạ tầng còn thiếu (điện, nước), thủ tục hành chính nhiêu khê….
– Tổng vốn đầu tư (tính gộp GPÐT và GPÐC) nước ngoài và trong nước năm 2001 theo ngoại tệ là 310 triệu USD, tuy mới chỉ đạt 91% chỉ tiêu đề ra song vẫn đứng trong 3 vị trí đầu trong tổng số 67 KCN-KCX của cả nước về kết quả thu hút vốn đầu tư trong năm 2001.
– Năm 2001 đã có thêm 109 nhà máy đi vào sản xuất; phần lớn doanh nghiệp họat động bình thường, kim nghạch xuất khẩu của 2 KCX tuy chỉ đạt 9,6% so với năm 2000 nhưng vẫn cao hơn mức tăng chung của kim ngạch xuất khẩu cả nước, là năm thứ tư xuất siêu kim ngạch và kim ngạch xuất siêu là 160 triệu USD.
– Trong năm 2001 các KCN-KCX thu hút thêm được 16.000 lao động, cao nhất trong các năm qua, đưa tổng số lao động trong KCN và KCX lên đến 96.000 người. Việc chấp hành luật lao động của người sử dụng lao động và người lao động tương đối tốt, chỉ có một số ít vụ tranh chấp giữa công nhân và chủ đầu tư nhưng đã được Ban quản lý và công đòan KCX-KCN hoà giải.
– Việc thực hiện công tác cải cách hành chính dần dần được cải thiện, Ban quản lý các KCN-KCX cũng đã đề xuất tháo gỡ các khúc mắc, khó khăn; công tác kiểm hóa của Hải Quan được sửa đổi; các hình thức dịch vụ , ngân hàng được tăng cường giúp các nhà đầu tư và doanh gnhiệp cảm thấy an tâm và tin tưởng hơn khi chọn KCN-KCX làm địa điểm dầu tư.
2/ Một số hạn chế trong công tác thu hút đầu tư tại các KCN-KCX:
Hiện tại các KCN không thể tiếp tục triển khai việc cho thuê đất vì các lý do sau:
- Ða phần các KCN đều ách tắc trong việc đền bù giải tỏa mặc dù đã báo cáo và đã được UBND thành phố chỉ đạo tháo gỡ nhưng chưa đạt được kết quả mong muốn, cản trở rất lớn đến tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng và thu hút đầu tư của các khu công nghiệp trong các năm gần đây.
- Sự chậm trễ của công trình cấp nước cho KCN Hiệp Phước, Trạm điện cho KCN Vĩnh Lộc, Lê Minh Xuân, việc nâng cao 2 trụ điện 2 bên bờ sông Soài Rạp đã ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của các doanh nghiệp KCN và ảnh hưởng không tốt đến việc thu hút đầu tư của các KCN .
- KCN Cát Lái 4 năm qua vẫn chưa khởi công xây dựng và KCN Hiệp Phước triển khai chậm về xây dựng cơ sở hạ tầng và thu hút đầu tư.
- Về lao động, có hơn 50% là lao động từ các tỉnh khác đến, việc ăn ở tạm bợ, đi lại gây ùn tắc giao thông giao thông vào giờ cao điểm đã tác động đến nhiều lĩnh vực kinh tế khác của thành phố mà hiện tại các cơ quan chức năng chưa có giải pháp nào hữu hiệu được triển khai.
- Các KCN-KCX hiện nay chưa đặt vấn đề bảo vệ môi trường, biện pháp xử lý các chất thải trong công nghiệp……. chưa được đề cập và giải quyết triệt để.
- Việc cạnh tranh không lành mạnh về giá thuê đất của một số KCN trong và ngoài địa bàn thành phố dẫn đến việc thu hút đầu tư của một số KCN bị hạn chế; bên cạnh đó còn kéo theo cả một số doanh nghiệp sản xuất gây ô nhiễm vào khu vực không đúng quy hoạch.
- Giá thuê đất tại KCN thực tế còn quá cao đối với một số doanh nghiệp khi họ muốn di dời vào KCN để sản xuất, thêm vào đó họ phải trả các chi phí dẫn đến giá thành sản phẩm của họ tăng lên không thể cạnh tranh với các doanh nghiệp cùng ngành nghề nhưng địa điển sản xuất ở địa bàn khác hoặc ngoài KCN.
- Những KCN không có lợi thế, ở xa trung tâm đô thị và đường giao thông, mức độ đầu tư cơ sở hạ tầng lớn thì giá cho thuê lại đất sẽ cao, việc thu hút đầu tư vào KCN này sẽ rất chậm.
- Một số công ty phát triển hạ tầng KCN sử dụng ngay diện tích đất chưa có cơ sở hạ tầng để cho doanh nghiệp thuê lại với giá rất cao, việc thu hút đầu tư vào các KCN này rất chậm.
Cơ chế cho thuê đất của bộ Tài chính kiến nghị Thủ tướng chính phủ sẽ phát sinh một số vấn đề sau:
- Các doanh nghiệp thuê đất phải ký kết 2 hợp đồng: một với Nhà nước về thuê đất và một với công ty phát triển hạ tầng về phí sử dụng hạ tầng, điều này sẽ tọa nên sự không đồng bộ trong thu hút đầu tư và quản lý điều hành hoạt động của KCN.
- Việc thay đổi cơ chế cho thuê đất khi các KCN tập trung đang bắt đầu phát huy tác dụng sẽ gây bất ổn trong chính sách của nhà nước, ảnh hưởng đến lòng tin của nhà đầu tư.
II.Kết quả thu hút vốn đầu tư trong những năm qua:
1/ Tình hình thu hút vốn đầu tư:
- Các Ban quản lý KCN-KCX thường xuyên quan hệ với các tổ chức ngoại thương và xúc tiến đầu tư của Nhật Bản, Hàn Quốc, Ðài Loan….để học tập, rút kinh nghiệm; tổ chức các đoàn của Ban quản lý và các công ty đầu tư và xây dựng KCN sang các nước vận động đầu tư và đón tiếp các đoàn doanh nghiệp của các nước đến KCX-KCN tìm kiếm cơ hội đầu tư để có thêm nhà đầu tư nứơc ngoài đầu tư vào KCN-KCX. Ngoài ra các công ty đầu tư xây dựng KCN còn vận động trực tiếp các nhà đầu tư trong nước, vừa thông qua việc cung cấp các dịch vụ thuận lợi cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đang hoạt động trong KCN để họ mời gọi bạn bè đầu tư vào KCN. Kết quả thu hút vốn đầu tư được thống kê một cách khá đầy đủ qua các bảng sau:
KCN, KCX Vốn đầu tư nước ngoài Vốn đầu tư trong nước
Vốn đầu tư (triệu USD) Trong đó Vốn đầu tư tỷ VNÐ Trong đó
Ðầu tư mới DN tăng vốn Ðầu tư mới DN tăng vốn
Số GPÐT Vốn đăng ký Số GPÐT Vốn tỷ VNÐ
Tân thuận 31,3 2 2,.00 29,3
Linh Trung 1 22,6 4 10,6 12
Linh Trung 2 7,33 7 7,33
Bình Chiểu 3,2 3,2
TânTạo 27,56 10 21,23 7,12 608,94 17 601,49 7,45
Vĩnh Lộc 16,51 11 14,75 1,76 459,02 17 443,36 15,66
- So sánh với năm 2000:
Tính gộp số vốn đăng ký của các GPD(T và tăng vốn, giảm vốn của các doanh nghiệp thì năm 2001, các KCN-KCX thu hút được sớ vốn cao hơn năm 2000
Tổng vốn của GPÐT và GPÐC Năm 2000 Năm 2001
Số vốn So với năm 2000
Vốn đầu tư nước ngoài
Vốn đầu tư trong nước
145,42 tr.USD
1.728,84 tỷ VNÐ
153,41tr.USD
2.053,01tỷ VNÐ
Tăng 5,5%
Tăng 35,6%
2/ Kết quả cộng dồn thu hút đầu tư của các KCN và KCX:
Số GPÐT và vốn đăng ký đầu tư hiện nay của các KCN và KCX
KCN-KCX Diện tích (ha) Ðầu tư nước ngoài Ðầu tư trong nước
Số GPÐT Vốn Tr.USD Số GPÐT Vốn Tỷ VNÐ
Tân thuận 300 114 615,65
Linh Trung 1 62 35 202,84
Linh Trung 2 62 8 7,63
Bình Chiểu 28 14 81,13 6 39,99
TânTạo 182 25 88,74 79 1.816,06
Vĩnh Lộc 200 22 31,07 31 899,98
Lê Minh Xuân 100 26 24,76 79 379,44
Tân Bình 1425 22 21,31 66 1.038,78
Tân Thới Hiệp 29 7 8,58 12 336,7
T.Bắc củ Chi 215 11 121,68 7 168,84
Hiệp Phước 332 2 31,40 2 125,58
Cộng: 1.652 286 1.234,79 280 4.805,37
- Số quốc gia, lãnh thổ nước ngoài đầu tư vào KCX và KCN là 18(Châu á: 9, Châu Âu và Mỹ: 6, Canada, úc… Trong đó 5 quốc gia, lãnh thổ có vốn đầu tư lớn nhất là:
+ Nhật bản: 408,80 Tr.USD – 55 GPÐT
+ Ðài Loan: 275,77 Tr. USD – 106 GPÐT
+ Hongkong:130,28 Tr.USD – 18 GPÐT
+ Hà Lan: 98,40 Tr.USD – 4 GPÐT
+ Hàn Quốc: 69,92 Tr.USD- 31 GPÐT
- Vốn đầu tư bình quân của một giấy phép đầu tư nước ngoài là 4,35 triệu USD, của một giấy phép đầu tư trong nước là 16,75 tỷ VNÐ. Tính riêng năm 2001, vốn đầu tư bình quân 1 GPÐT nước ngoài là 1,68 tr.USD, thấp mhơn mức bình quân của các năm trước; vốn bình quân của một GPÐT trong nước là 24,4 tỷ VNÐ, cao hơn mức bình quân củ các năm trước và gần bằng mức bình quân của 1 GPÐT nước ngoài năm 2002 (quy ra ngoại tệ là 1,63 tr.USD).
- Các ngành sản phẩm có vốn đầu tư chiếm tỷ lệ lớn trong tổng vốn đầu tư vào KCN và KCX (Linh Trung và Tân Thuận) là :
KCX Tân Thuận KCX Linh Trung Các KCN khác
Vốn nước ngoài Vốn trong Nước Vốn nước ngoài Vốn trong Nước
Ðiện, điện tử 30% Giày 34% H.chất, dược 23% Cao su, nhựa 25%
Dệt, may 18% Ðiện, điện tử 17% Thực phẩm 14% Dệt, may 20%
Cơ khí 14% Dệt, may 15% Gỗ,bao bì 11% Gỗ, bao bì 12%
Nhựa 11% Chế biến gỗ 8% Cơ khí 7% Thực phẩm 9%
- Kim ngạch xuất nhập khẩu của các KCN và KCX trong năm 2001:
+ Tính chung cho hai khu chế xuất: Kim ngạch xuất khẩu là 812,44 triệu USD, kim ngạch nhập khẩu là 651,79 triệu USD, so với năm 2000 tăng 9,6% , nhập khẩu tăng 1,1%. Mức tăng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu năm 2001rất thấp so với mức tăng hàng năm trên 30% của các năm trước.
+ Tính chung cho các KCN: kim ngạch nhập khẩu là 74,682 tr.USD, mua nguyên vật liệu thiết bị tại Việt Nam là 18,832 tr.USD, kim ngạch xuất khẩu là 37,998 tr.USD, tiêu thụ nội địa là 74,682 tr.USD (số liệu này chỉ đúng tương đương đối vì còn thiếu một số các doanh nghiệp chưa khai báo số liệu).
III.Phương hướng và mục tiêu phát triển của các KCN và KCX trong năm 2002
1/ Tiếp tục xây dựng cơ sở hạ tầng các KCN và KCX
- KCX Tân Thuận: khởi công xây dựng trung tâm hoạt động của công nhân, khu kho vân tại KCX Tân Thuận và kho hàng hó vận tải hàng không ở Tân Bình.
- KCX Linh Trung: hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng ở KCX Linh Trung 2.
- KCN Lê Minh Xuân tiếp tục thi công các công trình cơ sở hạ tầng khu 55 ha.
- KCN Vĩnh Lộc: đền bù, giãi toả 100% diện tích KCn, nâng cao nănglực trạm cung cấp nước, hoàn thành thiết kế và khởi công xây dựng trạm xử lý nước thải.
- KCN Tân Tạo: tiếp tục thi công để hoàn tất các công trình cơ sở hạ tầng trong đó có trạm sử lý nước thải của khu 182 ha, đồng thời tiến hành đền bù giải tỏa, xây dựng cơ sở hạ tầng khu mở rộng 262 ha.
- KCN Tân Bình tiếp tục thi công các công trình cơ sở hạ tầng trên diện ti`1ch hiện nay, hoàn thành thiết kế và khởi công xây dựng trạm sử lý nước thải; chuẩn bị để triển khai diện tích 100 ha nếu được phép mở rộng.
- KCN Tân Thới Hiệp: thi công các công trình chiếu sáng, cây xanh, xử lý nước thải; nế được phép triển khai giai đoạn 2 sẽ tiến hành đền bù giải tỏa và khởi công xây dựng cơ sở hạ tầng.
- KCN Tây Bắc Củ Chi: giải tỏa 2/3 diện tích còn lại của KCN (118 ha), khởi công các tuyến đường chính, các công trình thoát nước mưa, nước thải, chiếu sáng, cây xanh với tổng dự toán trên 80 tỷ VNÐ.
- KCN Hiệp Phước: thi công công trình cấp nước cho KCN, giải tỏa 147 ha còn lại, đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng để có thể tiếp nhận các dự án đầu tư lớn.
- KCN Cát Lái: bắt đầu đền bù giải tỏa mặt bằng và khởi công xây dựng cơ sở hạ tầng.
2/ Kế hoạch thu hút vốn đầu tư trong năm 2002
- Tranh thủ cơ hội đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có xu hướng gia tăng để đẩy mạnh vận động đầu tư, phấn đấu năm 2002 thu hút vốn đầu tư kề cả trong và ngoài nước quy ra ngoại tệ đạt 355 tr.USD, tăng 15% so với năm 2001. Cụ thể cho từng KCN và KCX như sau:
KCN, KCX Vốn đầu tư quy ra triệu USD Diện tích đất cho thuê và dặt cọc thuê (ha) Tỷ lệ lấp kín KCN, KCX (%)
Tân thuận 50 20 85%
Linh Trung 1 đã hết đất cho thuê
Linh Trung 2 30 15 60%
TânTạo 65 20 đầy khu 182 ha, 20% khu 262 ha
Vĩnh Lộc 25 20 80%
Lê Minh Xuân 20 15 75%
Tân Bình 25 10 85% (không tính phần mở rộng)
Tân Thới Hiệp 10 5 100% giai đoạn 1: 29 ha
T.Bắc củ Chi 30 25 80%
Hiệp Phước 100 60 50%
3/ Một giải pháp đối với các vấn đề phát sinh trong thời gian tới:
- Hiện tại thành phố Hồ Chí Minh đang thực hiện chính sách di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm vào KCN và vùng phụ cận nên tỷ lệ lấp đầy các KCN, Cụm công nghiệp là một vấn đề mang tính khách quan do đó việc phát triển các KCN, Cụm công nghiệp mới trong thời gian tới cần phải quy hoạch hết sức thận trọng; chương trình này cần phải kết hợp với các chương trình chỉnh trang đô thị, đổi mới thiết bị, đào tạo nguồn nhân lực….. bên cạnh đó cần phải có các chính sách hỗ trợ của nhà nước trong việc thiết lập các KCN, Cụm công nghiệp mới trong việc đền bù giải tỏa, xây dựng cơ sở hạ tầng giúp cho các doanh nghiệp khi di dời vào KCN và CCN sẽ không bị đẩy chi phí giá thành sản phẩm quá cao khó cạcnh tranh với các doanh nghiệp khác kinh doanh cùng sản phẩm nhưng ở địa bàn khác.
- Các KCN, CCN nếu được quy hoạch nhà nước cần ưu tiên tập trung vốn để giải quyết dứt điểm vấn đề đền bù, giải tỏa tránh tình trạng kéo dài việc đền bù giải toả hoặc khi đã xây dựng xong cơ sở hạ tầng cho các KCN, CCN người dân gây áp lực đòi tăng giá đền bù gây thiệt hại cho các KCN trong vấn đề cho thuê đất sau này.
- Các KCN, CCN cần phải có dự án xây dựng ngay các nhà máy xử lý nước thải, chất thải song song ngay khi xây dựng cơ sở hạ tầng tránh tình trạng tại các KCN,CNN trở thành địa điểm gây ô nhiễm tập trung. Công việc này Nhà nước nên sử dụng vốn ngân sách để thực hiện, hỗ trợ nhằm hạ chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng xuống giúp cho chi phí của doanh nghiệp không bị đẩy lên cao
- Việc phát triển các CCN trong thời gian tới là rất cần thiết vì mô hình này có quy mô nhỏ dễ phù hợp với những doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn, nhân công ít, máy móc còn lạc hậu…. mô hình này có thể là một bước quá độ trong một thời gian để họ có thể chuyển đổi ngành nghề hoặc thay đổi trang thiết bị sản xuất hiện đại mà không bị sốc khi phải tiếp cận ngay với mô hình khu công nghiệp hiện đại với những máy móc thiết bị và công nghệ tiên tiến; việc đầu tư cho CCN cũng ít vốn hơn sẽ làm giảm áp lực về tài chính cho nhà nước.
- Việc hình thành các KCN, CCN cũng cần phải tăng cường các dịch vụ kèm theo (điện thoại, ngân hàng, tư vấn, bưu điện, giao thông….) để phục vụ các doanh nghiệp, trong đó quan trong nhất là các dịch vụ về ngân hàng giúp cho những doanh nghiệp thiếu vốn có thể đáp ứng kịp với nhu cầu và cơ hội kinh doanh của họ.
khu cong nghiep , khu công nghiệp , khu cong nghiep